CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

4.10.11

SUY TƯ VỀ CĂN BỆNH THẾ KỶ: HIV/AIDS (1981-2011)

LTS: sau đây xin mời độc giả cùng thưởng thức những suy nghĩ của tác giả Hoành Sơn về 30 năm của căn bệnh SIDA hay AIDS, hội chứng suy giảm tính miễn nhiễm của cơ thể, khiến bệnh nhân trở nên bất lực trước sự xâm phạm của vi trùng. Xin phép tác giả sửa đổi đôi chút cho phù hợp với cách trình bày của trang nhà VW.

“Phải chăng HIV/AIDS là hình phạt Thiên Chúa giáng trên một loài người ngày càng đi vào hưởng thụ, gạt đạo đức sang một bên, y như xưa Ngài đã trừng phạt Do Thái 40 năm trong sa mạc vậy?”

Aids trên thế giới

Khi căn bệnh mấy ngàn năm hoành hành là Phong hủi bắt đầu lui bước, thì cũng là lúc HIV/AIDS thế chân ngay, cách đây đúng 30 năm.

Bệnh Phong hủi, hay Cùi, được nhắc đến trong những tư liệu có từ sáu thế kỷ trước công nguyên. Xuất phát có lẽ từ Trung Phi (Châu) và Trung Đông, nó truyền sang Ấn Độ, Trung Quốc, rồi Châu Mỹ, Châu Âu,v.v. với các trại phong mọc lên nhan nhản tại những vùng hẻo lánh, cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Sau nhiều cố gắng của y khoa, căn bệnh truyền kiếp đáng sợ ấy không còn là nan y nữa, kể từ cuối thế kỷ XX.

Cũng đúng vào cuối thế kỷ XX, năm 1981, người ta phát hiện những biểu hiện của cái sau đó gọi là HIV/AIDS bên Hoa Kỳ, bắt đầu giữa đám người đồng tính luyến ái, rồi nơi những người được truyền máu luôn. Những biểu hiện ấy đồng thời cũng gặp bên Châu Âu nơi những người nhập cư từ Châu Phi nữa. Từ đó, căn bệnh lây lan rất mau khắp cả địa cầu. Chỉ không đầy 10 năm sau, số tử vong đã đếm được 30 triệu. Riêng năm 2009, nhiễm HIV 60 triệu, còn chết vì AIDS 25 triệu, để lại số trẻ mồ côi 14 triệu.

Cũng vào thời điểm ấy, xung quanh chúng ta, sống chung với HIV có 3 triệu người ở Ấn Độ, 530.000 người ở Thái Lan, 280.000 người ở Việt Nam (vào giữa năm 2011, con số ấy tại Việt Nam vẫn không thay đổi). Nghĩa là : cứ mấy trăm, có một bị nhiễm đấy. Đáng sợ không!V HIV ở Ấn Độ HIVHhhH

Nếu người mắc bệnh phong lở loét, cụt ngón tay, ngón chân, nên thấy được từ ngoài, nhờ đó dễ tránh né và cách ly, thì người nhiễm HIV, thậm chí sang giai đoạn AIDS (SIDA), lại có bề ngoài bình thường như mọi người, nên nhiễm lây do đâu và lúc nào chẳng biết được.

Lại nữa, với các bệnh truyền nhiễm khác, sự mắc bệnh chỉ là do không may hay bất cẩn, chứ với HIV/AIDS, truyền hay lây có thể liên quan nhiều đến đời sống luân lý. Do đó mà có lắm điều để suy nghĩ.

Chúng ta hãy bắt đầu tìm do lai căn bệnh.

Căn nguyên HIV/AIDS

AIDS do bốn từ hợp thành : Acquired ImmunoDeficiency Syndrome (Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải). Nó khiến cho hệ thống kháng bệnh trong người bị tổn thương, đến nỗi bất lực trước sức tấn công của những mầm bệnh. Thủ phạm là giống loại vi rút được đặt tên HIV, tức Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây Suy giảm miễn dịch ở Người).

Để hiểu vi rút này và hoạt động phá hoại ghê gớm của nó, cần phải biết trước tiên về hệ thống kháng bệnh tự nhiên của cơ thể, và xem nó hoạt động ra sao.

Nơi sinh vật, nhất là ở con người, có cả một hoạt động miễn dịch phức tạp gồm nhiều cơ cấu và tiến trình, chúng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập và công phá của những mầm bệnh và khối u. Hoạt động kháng bệnh này chủ yếu do hệ thống miễn dịch gồm các bạch huyết cầu leucocyte trong máu và trong các hạch bạch huyết. Bạch huyết cầu gồm nhiều loại như bạch cầu hạt, thực bào và các lymphocyte B (mà chức năng là phát hiện) và T (mà chức năng là diệt trừ).

Khi đã phát hiện và tiêu trừ thành công một mầm bệnh rồi, tiến trình chống viêm nhiễm này sẽ tồn tại trong cơ thể như một tập quán gọi là “ký ức miễn dịch” (immunological memory) hay “Miễn dịch thủ đắc” (acquired immunity) : cơ thể trở thành miễn nhiễm đối với mầm bệnh cùng loại bất cứ khi nào chúng tới trong tương lai.

Dựa vào nguyên tắc nói trên, người ta chế tạo vắc xin phòng ngừa : cấy vào cơ thể chưa bệnh cái mầm bệnh đã bị làm cho suy yếu, tuy không thể gây bệnh nhưng kích thích cơ thể sản sinh sẵn những kháng thể, để khi mầm bệnh cùng loại xâm nhập, kháng thể sẽ bao vây ngay và diệt trừ với sự trợ giúp của các bạch huyết bào T. Đó là phòng ngừa, còn để chữa trị, người ta sẽ chích kháng thể được tạo sẵn trong cơ thể một con vật theo quy trình nói trên.

Bởi lẽ hệ miễn dịch quan yếu và phức tạp như thế, nên một rối loạn ở đó sẽ có hậu quả khôn lường. Rối lọan thứ nhất có thể do 1 bệnh viêm nhiễm gây nên một hoạt động bất thường của hệ miễn dịch như bệnh tự miễn (auto-immune disease) . Rối loạn thứ hai có thể là sự suy giảm miễn dịch trầm trọng, đến nỗi hệ miễn dịch mất sức đề kháng với mọi mầm bệnh . Nguyên nhân có thể là thuốc, là bệnh di truyền (genetic disease) hay vi rút.

Nếu nguyên nhân là vi rút, thì vi rút ấy được gọi là HIV (Human Immunodeficiency Virus, Vi rút gây Suy giảm miễn dịch nơi Người). HIV là một Lentivirus. Vi rút này thuộc họ Retrovirus. Đặc điểm gây bệnh của lentivirus là thời gian ủ bệnh rất dài. Lentivirus truyền đi dưới dạng RNA (RiboNucleic Acid) có màng bao, sẽ chuyển thành DNA khi xâm nhập tế bào để tiềm ẩn trong nhân tế bào ấy của cơ thể. HIV gắn vào protein CD4 ở bề mặt các lympho T để xâm nhập lymphocyte. Từ nhân tế bào lympho T, vi rút sẽ được sao chép, tăng trưởng và phát tán, phá hủy dần các lympho T, gây suy giảm hệ thống miễn dịch .

Sự nhiễm HIV sẽ diễn ra theo ba giai đoạn :

-giai đoạn cấp tính kéo dài trong vài tuần, bệnh giống cảm cúm với triệu chứng : sốt, nổi hạch, viêm họng, phát ban, đau cơ, lở miệng và cuống họng, nhức đầu và buồn nôn,v.v. nên thường khó chẩn đoán là do nhiễm HIV hay không.

-giai đoạn mãn tính , trung bình 11 năm, thường không có triệu chứng, ngoại trừ sưng hạch do vi rút hoạt động trong các hạch bạch huyết

-giai đoạn AIDS sẽ xảy ra khi các tế bào lympho T-CD4 giảm sút quá đáng, khiến hệ thống miễn dịch thành bất lực khi mầm bệnh xâm nhập. “Các bệnh cơ hội” (opportunistic diseases) sẽ xuất hiện ở các bộ phận khác nhau, như nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm nấm, viêm phổi dạng hạt, bệnh Kaposi…)

Nên nhớ rằng với AIDS, cơ thể bị thả nổi cho đủ thứ mầm bệnh xâm nhập và tàn phá, kỳ cho đến chết. Sự lây lan lại rất mau, do nhiều đường khó thấy nên khó đề phòng : đường máu, đường tình dục, đường sinh sản, sữa mẹ…Cũng đừng quên, chỉ sau 10 năm hoành hành, AIDS đã giết chết 30 triệu người và hiện người nhiễm HIV quanh ta khá đông.



Triệu chứng của Aids

Nguồn gốc AIDS bên Âu Mỹ, một báo ứng?

Ngày 5/6/1981, Trung tâm Kiểm Bệnh (Center of Disease Control, hay CDC) Hoa kỳ đăng trên tờ Báo cáo Tuần san về Mắc bệnh và Tử vong (Morbidity and Mortality Weekly Report) của họ về một bệnh lạ mới thấy nơi 5 gay (người đồng tính luyến ái) ở Los Angelès. Đang sống lành mạnh, họ bỗng nhiên mắc phải một chứng viêm phổi gọi là pneumocystose, và hai người đã chết. Các chuyên gia của CDC ngỡ ngàng, vì trước nay thứ viêm phổi nói trên chỉ gặp nơi những ai suy giảm miễn dịch nặng, thế mà năm người đó lại chẳng có triệu chứng suy giảm miễn dịch nào trước đó cả.

Chưa hết, ngày 4/7 cùng năm, nghĩa là chỉ đúng một tháng sau, tuần báo MMWR lại cảnh báo về một chứng bệnh ung thư da rất hiếm ở Hoa Kỳ, gọi là sarcomes de Kaposi mới xuất hiện cùng lúc nơi 26 đàn ông, tất cả cũng đồng tính luyến ái luôn. Những biểu hiện giống thế rồi sẽ được tìm thấy cả ở những người được truyền máu và những người nhập cư từ Haiti.

Số người mắc bệnh gia tăng rất nhanh. Ngay vào tháng ba năm 1983, số ầy đã là 1000, khiến người ta phải vội vã khuyến cáo : đừng giao phối với những người tình nghi mắc bệnh, và kiểm tra kỹ những ai đến hiến máu.

Cũng trong thời kỳ nói trên, từ 1981 đến 1982, các bác sỹ tại Paris cũng phát hiện hội chứng suy giảm miễn dịch trong cộng đồng người đồng tính luyến ái và nơi những người đến từ Zaire (vùng sông Congo, Phi Châu).

Sau khi phát hiện AIDS bên Mỹ và Châu Âu, đồng thời nơi những người nhập cư gốc Châu Phi, người ta vụt nhận ra rằng : trước đây bên Lục địa đen từng đã gặp những biểu hiện giống thế vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Và thật ra ở đó, ngay từ năm 1957 đã có người chết vì chứng bệnh nói trên rồi. Thế là các nhà khoa học liền quay sang Châu Phi tìm hiểu nguồn cội. Và họ bàng hoàng với khám phá : vi rút gây AIDS đã từ khỉ rừng lây sang chúng ta.

Quả thế, loại HIV độc hại nhất và lây lan dễ nhất là HIV-1 đã gặp thấy từ lâu ở loài tinh tinh (chimpanzee) trong các khu rừng Cameroon và Congo, ít là vào cuối thế kỷ XIX hay đầu XX. Trong rừng, tinh tinh thường sống thành bầy đàn lớn, và người ta phát hiện ở một nhóm có tới 35% nhiễm SIV (Simian Immunodeficiency Virus, hay Vi rút gây Suy giảm miễn dịch nơi Khỉ). Còn HIV(SIV)-2 được tìm thấy ở khỉ mặt xanh (mangabey) bên Tây Phi và truyền sang con ngươi vào đầu thế kỷ XX.

Ắt hẳn vì hệ miễn dịch của tinh tinh mạnh gấp mấy của chúng ta, nên SIV lây lan chậm hơn và gây tử vong ít hơn. Chứ sang đến con người, thành H(Human)IV, nó tàn phá khủng khiếp. Một cuộc kiểm nghiệm cho thấy cứ 1000 người dân Cameroon, có tới 23 người dương tính, nhất là ở thành thị. Riêng đối với những làng sống bằng săn bắn, thì con số ấy là 78 người. Nghĩa là do vật lộn với khỉ rừng, bị chúng cào cắn, thợ săn dễ nhiễm vi rút do nó truyền sang, rồi đến lượt vợ họ bị lây qua đường tình dục, và con bị lây qua đường sinh sản và bú sữa. Kế đó, sau khi việc đô thị hóa tăng tốc, thì dân làng và dân săn bắn đổ về, sống chung chạ quá đông trong các khu ổ chuột, thì sự lây lan cũng tăng tốc luôn.

Một khi dân Châu Phi đã nhiễm HIV và bệnh AIDS đông rồi, thì di cư sang Pháp và Hoa Kỳ qua Haiti, họ cũng mang mầm bệnh theo.

Như vậy, tai họa HIV/AIDS đã từ Châu Phi chuyển đến Châu Âu và Châu Mỹ, từ đó phát tán nhanh ra khắp thế giới. Con đường truyền vi rút này đúng là đường ngược dòng với tai họa mà người da trắng mang đến cho da đen suốt từ thế kỷ XVI cho đến XIX qua cái được gọi là Traite des noirs hay Traite négrière (Buôn bán da đen). Quả thế, kể từ thế kỷ XVI, các nước Châu Âu đã thi nhau sang “thực dân” Châu Phi. Dĩ nhiên là, cùng với sự chiếm đóng và bóc lột, họ cũng mang ánh sáng văn minh tới cho vùng rừng rú, đồng thời tập hợp các bộ lạc thành những quốc gia có biên giới và tổ chức như ta thấy ngày nay. Thế nhưng tội ác có một không hai của họ trong lịch sử là việc “Buôn bán da đen” nói đến trên kia.

Đúng thế, cũng vào thời kỳ ấy, với súng ống trong tay, từng đoàn người đông đảo đi săn bắt da đen như săn thú, rồi dồn họ đông nghẹt xuống hầm tầu mang bán sang làm nô lệ bên Châu Mỹ đang còn hoang vu với các đồn điền thiếu người canh tác, và họ (nhiều chục triệu da đen) bị đối xử không khác gì súc vật trong suốt ba thế kỷ. Vậy nếu nay dân da trắng nhận lại từ phía dân da đen một tai ương (HIV/AIDS) khủng khiếp không kém, thì nếu nói theo thuyết nhân quả Nhà Phật, đây chỉ là báo ứng nhãn tiền mà Tây phương phải gánh chịu.

Dẫu sao chăng nữa, bị khốn khổ nhất vì căn bệnh đó hiện nay vẫn là Lục địa đen. Vào năm 2005, cứ 1000 dân Nam Phi thì có 124 nhiễm HIV; và trên tổng số nhiễm HIV của toàn thế giới, miền Phi Châu Nam-Sahara (Sub-Saharan Africa) chiếm tới 68% vào năm 2007. Bệnh đông nhất là họ, mà nghèo nhất cũng lại là họ, nên hầu hết không đủ tiền mua thuốc trị bệnh. Bởi thế, để đền bù vì tội ác chống da đen trước đây, Ậu Mỹ phải cung cấp miễn phí cho Châu Phi thuốc ARV (Kháng RetroVirus), đồng thời giúp các cơ quan y tế ở đó kiểm soát cho bằng được dịch bệnh.

Thật ra, năm 2008 Hoa Kỳ đã thành lập Kế hoạch Pepfar nhằm giúp các nước đang phát triển chống HIV/AIDS và một hai bệnh khác. Ngoài ra, một hai tổ chức tư nhân như Quỹ Bill and Melinda Gates cũng giúp tiền cho một tổ chức nghiên cứu tìm vắc xin ngừa bệnh nói trên. Tuy thế, việc giúp đỡ hơi muộn và chưa đủ. Nhất là cho đến nay, những kẻ đầu têu trong tội ác (Traite des noirs) là Anh, Tây ban nha…vẫn chưa làm gì cả.

Sự lây lan và những trách nhiệm

Sinh ra đã bị nhiễm HIV qua đường sinh sản hay bú mớm, những trẻ vô tội ấy thật vô cùng đáng thương. Cũng đáng thương như thế những phụ nữ HIV dương tính do người chồng thiếu chung thủy truyền sang cho. Cùng trường hợp ấy những ai bị lây do truyền máu bất cẩn. Vâng, rất đông là nạn nhân, không phải tội nhân. Đối với họ, chúng ta phải tỏ ra cảm thông, xót thương đấy mà không kém phần kính trọng.

Thế nhưng kẻ bị lây do sống buông thả về mặt tình dục, lây vì giao hợp đồng tính nên bị xây xước máu chảy, lây vì chích ma túy hay bán dâm, mua dâm, rồi cũng qua những con đường tội lỗi nói trên mà giáng họa cho muôn ngàn người khác, những kẻ ấy thật đáng trách, đáng lên án biết bao. Vâng, nếu các dịch bệnh khác (như phong hủi, cúm gà) chỉ có nạn nhân thôi, thì HIV/AIDS một phần phải quy trách cho những kẻ gây dịch vì sống buông thả và ham khoái lạc như thế, nhất là vào hồi đầu. Và người ta có thể đặt ra những câu hỏi như :

- Phải chăng HIV/AIDS là hình phạt Thiên Chúa giáng trên một loài người ngày càng đi vào hưởng thụ, gạt đạo đức sang một bên, y như xưa Ngài đã trừng phạt Do Thái 40 năm trong sa mạc vậy?

Quả thực, thế giới hôm nay tuy là thế giới tự do và dân chủ đấy, nhưng tự do theo ý nghĩa muốn làm gì thì làm, và dân chủ theo ý nghĩa dung hòa giữa những quyền lợi cá nhân. Vâng, tôi được hành động tự do, miễn là không xâm phạm đến quyền lợi những công dân khác, chứ không cần biết việc làm của tôi có xấu hay không, cũng chẳng cần nói đến bổn phận, như bổn phận hiếu thảo đối với mẹ cha, bổn phận chung thủy giữa hai vợ chồng,v.v. Quả thực ngày nay ai còn thuyết về thiện ác, kẻ ấy bị coi là lạc hậu.

Không còn thuần phong mỹ tục và không còn quy chiếu luân lý trong cuộc sống xã hội nữa, nên trong việc phòng chống HIV/AIDS người ta cũng không hề tính đến tác nhân đạo đức. Tránh lây lan qua đường tình dục ư? Cứ dùng bao cao su là được rồi. Còn để tránh lây lan bằng chích bạch phiến, người ta đặt sẵn ống và kim sạch khắp nơi. Làm như thế cũng bằng như bảo: -Cứ hưởng thụ thoải mái, miễn là cẩn thận một tí!

Kịp đến khi những người như Đức Biển Đức XVI trả lời phỏng vấn báo chí năm 2009, rằng bao cao su không phải là giải pháp tốt nhất, thì người ta ầm ầm chửi bới, thậm chí trêu ngươi bằng cách mang bao cao su đến phát trước cổng nhà thờ Đức Bà Paris.

Chỉ có tờ Daily Telegraph của Anh là dám bênh vực Ngài, nhưng rụt rè một tí: -Đức Giáo chủ là lãnh tụ một tôn giáo lớn, nên Ngài không thể nói khác được.

Y như thể nói đạo đức chỉ là truyện nội bộ của tôn giáo, chẳng liên can gì đến xã hội cả.

Dĩ nhiên là, đứng trước cơn lũ HIV/AIDS đang ập đến, xã hội không thể không đắp vội một đê ngăn, đê tạm thời. Nhưng nay tuy chưa tìm ra thuốc chủng ngừa, nhưng việc dùng ARV ba thứ phối hợp đã khiến lây lan chựng lại. Nên đã tới lúc nghĩ đến về một giải pháp bền vững và thích hợp nhất.

Tôi có ý nói một giải pháp xứng với phẩm giá con người, con người biết phân thiện ra khỏi ác. Và đây là :

1-Giao phối có trách nhiệm chỉ giữa vợ chồng với nhau, với mục đích sinh con hay duy trì tình yêu phu phụ.

2-Chống giao hợp đồng tính, nó chỉ nhắm khoái lạc thôi.

3-Bài trừ tận căn việc dùng và bán buôn ma túy, một tội ác đối với xã hội và với phẩm giá con người.

Với chức năng ngôn sứ (đề ra hướng đi đạo đức và phê phán cách làm của xã hội), Hội Thánh không thể không cổ võ những giải pháp nói trên, dù không phản đối giải pháp bao cao su và kim ống chích sạch, coi đó như việc đắp đê gấp, cực chẳng đã nên tạm thời thôi.

Ba giải pháp nói đó tuy là căn bản đấy, nhưng chỉ chính quyền, với các phương tiện chế tài của mình, mới thi hành nổi. Thế nhưng chính quyền ngày nay lại coi bảo vệ đạo đức và phẩm giá con người không thuộc chức năng của họ. Như thay vì phạt những kẻ bất hiếu với mẹ cha như kinh thư (Lễ ký IV.10) nói và quan quyền xưa quen làm, nhà nước thời nay chỉ can thiệp khi đánh người có thương tích, dù đánh cha mẹ cũng vậy thôi.

Cầu Nguyện cho Aids

Xã hội và chính quyền trước đây, bên Tây thì lấy luân lý Ky tô giáo làm tiêu chuẩn để phê phán và hành xử, còn kim chỉ nam ấy bên Đông Á là đạo Nho. Nhờ đó mà có thuần phong mỹ tục hay thứ tập quán luân lý chung, chính thứ tập quán chung ấy sẽ o ép người ta sống trong sạch, nhân nghĩa, hiếu thảo,v.v. Một khi xã hội đã thanh cao như thế, thì cái nguồn lớn nhất của lây lan HIV/AIDS đã được khống chế tận gốc rồi. Vâng, giải pháp bề sâu và lâu dài phải là xây dựng một XÃ HỘI SẠCH ! Và đây cũng là ý nghĩ của Đức Biển Đức XVI : trách nhiện trong giao phối và coi trọng gia đình, hôn nhân! (Nên nhớ, sự ổn định gia đình sẽ tác động ngược đến đời sống xã hội : Về cuộc bạo loạn đường phố của thanh thiếu niên bên Anh vào giữa năm 2011, không những thủ tướng Anh, mà cả một chuyên gia viết về gia đình trên Daily Telegraph là bà Cristina Odone cũng phải gán cho nguyên nhân là sự tan rã của gia đình, khiến 3 triệu rưỡi trẻ em xứ sương mù mất cha và mất luôn mái ấm. According to Cristina Odone of the Daily Telegraph, the riots could be traced back to a lack of male role models: “Like the overwhelming majority of youth offenders behind bars, these gang members have one thing in common: no father at home.” DT Aug 11, 2011)

Vì thế, phải chuyển hướng cho dư luận xã hội và phương thức cai trị hôm nay. Dân chủ thì không thể không nói đến quyền người dân (democracy do demos-kratos, tức dân-quyền), nhưng phải thêm vào bổn phận nữa, và đây là bổn phận của mỗi công dân đối với gia đình và xã hội.

Nghĩa là luật pháp phải vào cuộc để chỉnh sửa nếp sống gia đình, vừa phạt nặng những ông chồng không chung thủy và những đứa con bất hiếu, vừa loại trừ hay ít là giới hạn mạnh những ổ điếm. Chính quyền hãy hỗ trợ các tôn giáo, giúp họ thiết lập và duy trì những trung tâm hoàn lương cho các cô gái vì mưu sinh mà phải bán mình. Tại những trung tâm ấy, họ sẽ được giáo dục về đức hạnh và học nghề để sống. Chính quyền đã sẵn những cơ quan bài trừ ma túy, nhưng cần trong sạch hóa những đội quân ấy, để hoạt động của họ thành hữu hiệu thực sự. Mặt khác, bằng các biện pháp hành chính, nhà nước cần củng cố nền giáo dục gia đình đã trở nên hời hợt từ lâu, đồng thời đặt nặng vấn đề đức dục ở học đường, theo phương châm truyền thống: -Tiên học lễ, hậu học văn

Để đức dục ở học đường phát triển, chính quyền nên giúp các tôn giáo mở trường thuộc mọi cấp bậc.

Đứng trước ai bị nhiễm HIV hay bệnh AIDS, đừng tỏ ra sợ hãi và tránh né kẻo gây mặc cảm. Thật ra thì bệnh đó không lây lan do tiếp xúc bình thường đâu. Vậy hãy tỏ ra kính trọng và cảm thông. Phần lớn họ chỉ là nạn nhân đáng thương xót. Và nếu có ai do phóng túng mà nhiễm bệnh, thì hãy nhớ chúng ta cũng là những kẻ tội lỗi cần được Chúa ban ơn tha thứ. Để được tha như thế, hãy tha cho anh em khi mà Chúa đã tha cho tội nhân rất dễ và đối xử với họ cách nhân từ biết bao:

-“Ta cũng không lên án chị đâu, hãy đi và đừng phạm tội nữa!” (Gio.8.11)

Tiến xa hơn, hãy dấn thân phục vụ những người khốn khổ ấy trong các trung tâm cai nghiện hay bệnh viện AIDS, như Công giáo chúng ta vẫn quen làm trong các các trại phong. Vâng, biết bao nữ tu đã hy sinh cả cuộc đời để phục vụ người cùi. Nhất là cha Damien đã chia sẻ một cách đầy đủ cuộc sống người cùi khi phục vụ họ bằng cách ăn chung ngủ chung với họ, cuối cùng chết cùi chung với họ luôn.

Số phận những bệnh nhân HIV/AIDS thê thảm y như bệnh nhân phong thời xưa. Họ bị loài người ruồng bỏ, tránh né. Bố mẹ thì không xí nghiệp nào nhận vào làm, cón con cái thì ttrường nào cũng từ chối, vì e bố mẹ các trò khác không cho con đến học đấy nữa.

Hãy nhớ rằng tất cả chúng ta là những bệnh nhân phong hủi và AIDS gớm ghiếc về mặt thiêng liêng. Thế nhưng Thiên Chúa đã không nề hà giáng thế, dấn thân vào giữa đống bùn lầy tội lỗi của chúng ta, hầu cứu chúng ta ra khỏi đó và cho chúng ta chia sẻ sự sống thần thánh của Ngài!

Hoành Sơn







Posted on September 7th, 2011 by anh

Read full article No Comments
Hòa thượng Cua và Tình Mẫu Tử

(Không biết tên tác giả)

Căn nhà lá xiêu vẹo mục nát bên bờ ao, ra vào chỉ có hai mẹ con. Mẹ buôn gánh bán bưng, tảo tần hôm sớm; đứa con trai còn nhỏ dại, đỡ đần mẹ những việc lặt vặt hàng ngày.

Một hôm mẹ bảo con:

- Sáng nay mẹ bắt được mấy con cua, còn để trong giỏ ở góc bếp. Trưa con hái rau đay nấu bát canh cua, mẹ đi bán về hai mẹ con ăn nhé.

Mẹ và Con

Cậu bé vâng dạ, người mẹ quảy gánh hàng rong ra đi, cậu nhìn theo bóng mẹ, muốn nói, mẹ về mua cho con tấm bánh đúc, nhưng lại không dám. Tuổi thơ nhà nghèo đã sớm biết cảnh ngộ, cha mất từ khi cậu còn ẳm ngửa, mẹ bươn chải suốt ngày chỉ đủ cho hai mẹ con rau cháo đỡ lòng. Dám mơ gì đến áo quần quà bánh, càng không dám nghĩ đến chuyện học hành. Nhiều lần cậu bé đứng đàng xa nhìn về ngôi trường làng, thấy đám học trò đang gò lưng tập viết, hoặc đồng thanh đọc theo thầy “Nhân chi sơ tính bản thiện…” cậu thích mê, tuy chẳng hiểu một chữ nào nhưng cậu cảm thấy bao điều huyền diệu trong những âm thanh trầm bổng ấy.

Thích thì thật thích, nhưng tuyệt đối cậu không dám hé ra một lời với mẹ. Bởi vì cậu biết mẹ cậu đã khổ quá nhiều. Đôi lần cậu cảm nhận những giọt nước mắt thầm rơi trên tóc cậu, khi mẹ ôm cậu vào lòng. Nhưng khi cậu nhìn lên, mẹ lại vội mỉm cười, bảo là có hạt bụi rơi vào mắt. Sau đó mẹ ôm cậu chặt hơn, và hai mẹ con cùng ngồi yên lặng, tận hưởng những giây phút sum vầy hạnh phúc bên nhau. Hiển nhiên là cậu không thể sống thiếu mẹ và ngược lại, mẹ cũng không thể nào sống mà không có cậu.

Mãi nghĩ vẫn vơ, nhìn lại đã thấy trời gần đứng bóng, cậu bé nhớ lời mẹ dặn, ra sau nhà hái một đám rau đay, rửa sạch rồi để vào rổ cho khô. Rau đay nấu với nước cua giã, mùa hè nóng nực có bát canh nầy thì ăn đến đâu mát ruột đến đấy. Hôm nay mình phải nấu thật ngon, mẹ đi bán về mệt, ăn vào chắc chắn khỏe ra ngay. Mẹ sẽ khen con mẹ giỏi ghê, và mẹ sẽ thưởng cho mấy cái hôn vào má.

Chiếc giỏ tre nằm nơi xó bếp. Mấy con cua bò lổm ngổm. Cậu bé đến gần, định trút cua ra cối giã. Chợt thấy những đám bọt sùi trên thân cua, cậu ngẩn ra nhìn. Thì ra cua cũng biết khóc ư? Chúng sợ mình giết chúng đây mà. Tội thế thì thôi. Làm sao mình nỡ hại chúng được nhỉ? Cậu mang giỏ cua ra bờ ao, trút hết cua xuống đất. Lũ cua được hồi sinh, vội vã bò đi tản mát. Cậu bé nhìn theo, mỉm cười…

Buổi trưa nắng gắt. Người mẹ trẻ quẩy gánh hàng rong còn nặng trĩu trở về. Từng vệt mồ hôi trắng loang lổ trên lưng áo, chảy ròng ròng trên mặt. Nghèo nàn cơ cực và đau khổ đã tàn phá nhan sắc người thiếu phụ quá sớm. Mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, ở nhờ nhà dì chú lại bị hành hạ đuổi xua, cô phải làm thuê ở mướn nuôi thân qua ngày. Tuy cô hiền hậu dễ thương, nhưng gia cảnh quá bần hàn nên không ai muốn kết thân. Mãi về sau, gặp được người tử tế, tưởng số phận đã mỉm cười, vợ chồng suốt đời nương tựa bên nhau. Nào ngờ chồng mắc cơn bạo bệnh, không tiền thuốc thang nên qua đời, để lại đứa con trai mới vài tháng tuổi. Cũng an ủi cho cô, đứa con càng lớn càng thông minh, lại rất ngoan, rất có hiếu. Mẹ đi bán về, bé biết rót nước mẹ uống, quạt mát cho mẹ; thấy mẹ buồn, bé biết rúc đầu vào lòng mẹ, thỏ thẻ với mẹ đôi câu. Nếu không có đứa con, chưa chắc cô có thể gắng sống đến bây giờ.

Nghĩ đến con, người mẹ thấy lòng dịu mát. Ở nhà chắc thằng bé đã nấu cơm xong. Sáng giờ chưa có gì vào bụng, người mẹ nghe đói cồn cào. Gắng sức về đến nhà, rửa mặt qua loa, cô mỉm cười nghe con vừa dọn cơm vừa tíu tít. Nhìn bát cà muối nằm chỏng chơ trên chiếc mâm tre, người mẹ ngạc nhiên hỏi:

- Con quên nấu canh cua chăng?

Thằng bé ngập ngừng:

- Con không quên đâu, mẹ ạ. Nhưng… lúc bắt cua định cho vào cối, con thấy chúng khóc tội quá nên… đã thả hết rồi.

Người mẹ tức nghẹn, trố mắt nhìn con, lát sau mới thốt lên:

- Cái gì? Mầy nói cái gì?

Nhìn đôi mắt long lên của mẹ, thằng bé co rúm người lại, líu ríu không ra tiếng:

- Dạ… con thả cua đi hết rồi.

Vừa mệt vừa đói lại vừa tủi cực, người mẹ òa lên khóc:

- Giời ơi là giời! Sao đời tôi khổ thế này? Người ta có con nhờ con có của nhờ của, tôi chỉ có một đứa con mà chẳng biết thương mẹ. Đồ bất hiếu, xéo ngay khỏi nhà nầy! Từ nay chẳng mẹ con gì sất!

Thuận tay, người mẹ cầm ngay đòn gánh phan vào chân con. Thằng bé trúng đòn vào chân đau điếng, vội chạy ù ra khỏi cửa. Người mẹ gục mặt vào cạnh bàn, đôi vai gầy guộc rung lên từng hồi trong cơn đau khổ xé lòng. Nỗi giận Trời già bất công, nỗi thương thân phận hẩm hiu chưa hề có một ngày vui trọn vẹn, chưa một giờ nào thật sự thảnh thơi. Bên cạnh, vẫn âm ỉ nỗi ân hận đã nặng tay nặng lời với đứa con thân yêu duy nhất. Từ trước đến nay, có bao giờ thằng bé bị bà la mắng, nói gì đến đánh đập đuổi xua? Chỉ tại hôm nay trời nóng quá, hàng họ ế ẩm, chủ nợ lại chận đường chửi bới đủ điều. Cực nhục quá đỗi, thân cò đơn chiếc làm sao giữ nổi bình tỉnh khi chút hy vọng cỏn con là một bữa ăn cải thiện mà cũng không thành hiện thực?

Chìm vào tột cùng đau khổ, người mẹ cứ gục đầu, không biết thời gian trôi qua, không biết bên ngoài trời đã xế chiều. Khi chợt tỉnh, nhìn quanh thấy im vắng lạ thường, người mẹ nhớ lại chuyện lúc trưa. Hốt hoảng gọi con, không nghe tiếng thưa, cô vội nháo nhác đi tìm…

. . . Cuộc tìm kiếm kéo dài gần 40 năm.

Người mẹ trẻ ngày nào đã trở thành một bà cụ cô đơn, còm cõi, sống hiu quạnh nơi quán nước bên đường. Hai mắt đã mờ, hai tai đã lãng, nhưng nỗi nhớ thương ân hận vẫn còn tươi nguyên, vẫn còn da diết. Bao nhiêu năm trời lang thang tìm con khắp nẻo, không kể nắng mưa gió bụi, không kể lạnh lùng đói khổ, bà sống nhờ hạt cơm bố thí. Chỉ có một chút lửa hy vọng nhìn lại mặt con, ôm con trong vòng tay, nói lên lời xin lỗi, mới giữ được bà còn sống đến ngày nay. Chút hy vọng ấy như sợi dây tơ giữ bà liên hệ với cuộc đời. Những năm gần đây, sức đã mòn chân đã yếu, bà đành về làng cũ, dựng tạm quán nước bên đường làm nơi trú thân và để tiện việc hỏi han tin tức đứa con lưu lạc. Sáng nay, tự nhiên bà cụ thấy nôn nao lạ lùng. Từ sớm, bà đã lui cui dọn dẹp bàn ghế, quét sạch nhà cửa, quét luôn đám lá ngoài sân. Ly tách trên bàn đã sạch sẽ ngay ngắn, nhà cửa đã ngăn nắp gọn gàng mà bà vẫn luôn tay làm việc. Dường như có một luồng sinh khí tràn vào thân tâm khiến bà mạnh lên, trẻ lại, nhưng bà không hiểu nguyên do, không biết có chuyện gì sẽ xảy ra cho mình. Mãi làm, bà không biết có một người khách vừa đến. Khi nghe tiếng gọi, bà mới giật mình ngẩng lên chào hỏi. Khách là một vị tu sĩ, trạc tuổi 50, giọng nói từ hòa trầm ấm:

- Bà cụ mở quán nầy lâu chưa?

Bà bưng tách trà đặt ngay ngắn trước mặt nhà Sư, chấp tay cung kính:

- Bạch cụ, con mới mở vài năm nay thôi ạ. Trước đây con cũng ở làng nầy, nhưng tận sâu trong kia.

Nhìn theo ngón tay chỉ của bà cụ. Sư như nhận ra điều gì, vội hỏi tiếp:

- Thế… bà cụ ở đây cùng với con cháu chứ?

Bà cụ đưa tay áo lên lau giọt nước mắt vừa ứa ra, buồn bã trả lời:

- Bạch cụ, trước kia con có một đứa con trai. Năm nó 12 tuổi, chỉ vì một chút bất hòa, nó đành đoạn bỏ con đi biệt tích. Con tìm nó suốt 40 năm nay, sức mỏn hơi tàn nhưng cũng gắng sống chờ gặp lại nó, nói với nó một câu xin lỗi rồi mới yên tâm nhắm mắt. Nếu không thế thì con không có mặt mũi nào nhìn nhà con dưới suối vàng được ạ.

Rồi như mạch nước được khai thông, bà cụ run run ngồi xuống bên Sư, kể hết mọi sự tình. Bà kể về những tháng năm mẹ con đầm ấm bên nhau, đến chuyện một bát canh cua làm đoạn lìa tình mẫu tử. Bà kể về khoảng thời gian lang thang khắp nẻo, vừa xin ăn vừa lặn lội tìm con, cho đến tuổi già còn đau đáu ngóng vời đứa con biệt dạng. Bà không thấy rõ mặt Sư, vì giòng lệ nhiều năm đã làm mờ ánh sáng của đôi mắt trong, nhưng bà cảm nhận một sự thân thuộc và tin cậy không tả nổi với người khách lạ nầy. Cho nên, tâm sự chất chứa bao năm đầy ắp, giờ có dịp được trút cạn nỗi niềm.

Sư sửng sờ, ngồi lặng thinh. Trước mắt Ngài hiện rõ hình ảnh một đứa bé gầy guộc đen đủi, mặc chiếc quần cộc đen, ngồi nhìn đám cua đang khóc trong giỏ, rồi lui cui thả chúng xuống ao. Đứa bé ra cửa đón mẹ, hai mẹ con đang nói cười vui vẻ, bỗng đâu mẹ quắc mắt nhìn mâm cơm, và một chiếc đòn gánh phang đến. Vết đau nơi chân không sâu bằng vết đau trong tâm hồn non trẻ và sự hoảng sợ khi cậu bất chợt nhận ra một người khác nơi mẹ mình, một con người sân hận hung dữ mà cậu chưa hề gặp.

Cậu không biết mẹ đã biến đi đâu. Người mẹ hiền từ dịu dàng vẫn vuốt ve ôm ấp cậu. Cậu ôm đầu chạy trốn con người hung dữ kia, tai vẫn văng vẳng nghe tiếng gào thét của hắn. Cậu nhắm mắt chạy mãi, chạy mãi để trốn tránh những hình ảnh, những âm thanh ma quái ấy. Cho đến khi mệt đuối, cậu ngã xuống một bờ đê, bất tỉnh.

Bà cụ vẫn thủ thỉ kể chuyện đời mình bằng một giọng đều đều, nhỏ nhẻ. Sư vẫn ngồi đó yên lặng, tiềm thức tiếp tục trổi dậy những hình ảnh ngày xưa. Bốn mươi năm dài chỉ như một chớp mắt. Cậu bé được một vị sư già đưa về chùa săn sóc, dở tỉnh dở mê. Cơn chấn động tinh thần dữ dội, thêm sự nhọc mệt quá độ của thể xác làm mất hẳn trí nhớ. Cậu không biết mình con ai, ở đâu, tên gì, vì sao nằm gục trên đám ruộng xa lạ. Khi tỉnh dậy nhìn quanh, thấy mình đang ở trong chùa, bên cạnh là vị sư già đang nhìn cậu bằng đôi mắt bao dung, từ ái.

Kể từ hôm ấy, cậu như mới được sinh ra, sống nương cửa Phật, nhờ ơn giáo dưỡng của sư phụ trụ trì. Tu hành tinh tấn, giới hạnh trang nghiêm, cậu dần trưởng thành, trở nên một vị chân tu thạc đức, được sư phụ cho kế thừa trụ trì ngôi tu viện. Trong một đêm thiền định sâu xa, khi mọi vọng niệm bặt dứt, trở về với bản tâm thanh tịnh rỗng lặng sáng ngời, ngài đột nhiên nhớ lại chuyện xưa. Thời thơ ấu bên người mẹ hiền sớm hôn tần tảo vụt hiện ra, rõ ràng như chuyện xảy ra hôm qua.

Mẹ giờ chắc đã già yếu, quạnh quẽ cô đơn, từng ngày mong ngóng đứa con duy nhất. Người tu cát ái từ sở thân, nhưng không vì thế mà lãng quên công sinh thành dưỡng dục. Phải trở về quê cũ, tìm gặp mẹ hiền, nghĩ cách bù đắp cho Người những gì mình thiếu sót, báo đền ơn sâu của Người dù đã muộn màng.

Sáng sớm hôm sau, Ngài sắp xếp công việc trong tự viện, giao phó cho những đệ tử thân tín, bảo là ra đi có việc cần, khi nào xong việc sẽ trở về. Một mình Ngài tìm về làng xưa, nhận không ra quang cảnh cũ. Bốn mươi năm, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Mái nhà tranh thân thương cạnh bờ ao rau muống, nay chỉ là mảnh đất cỏ dại. Đi quanh xóm, không còn một gương mặt thân quen. Mẹ già đã phiêu bạt nơi đâu, hay đã ra người thiên cổ?

Bốn mươi năm, hình ảnh mẹ bị phủ che bởi lớp bụi dày vô ký, con không hề biết trên đời nầy có mẹ, thảnh thơi sống trong thiền môn vui với câu kinh tiếng kệ. Chao ôi! Tu hành mà làm gì khi một chữ hiếu chưa trả xong, khi không biết mẹ hiền đang ở đâu để lo bề phụng dưỡng?

Nhiều năm trôi qua như thế. Ngài quảy gói làm du Tăng đi khắp hang cùng ngõ hẹp hỏi thăm tin tức về một người mẹ mất con. Trả lại câu hỏi của Ngài, mọi người đều lắc đầu không rõ. Rất thông cảm và rất thương cho vị tu sĩ có hiếu, nhưng không ai có thể giúp Ngài được gì. Nhiều người góp ý, có lẽ thời gian qua lâu thế, mẹ Ngài đã khuất bóng rồi chăng, biết bà cụ ở đâu mà tìm? Chỉ một mình Ngài vẫn giữ trọn lòng tin, Phật Trời không phụ người thành tâm, sẽ có ngày mẹ con đoàn tụ.

Và bây giờ, sự thật mà cứ ngỡ trong mơ! Mẹ đang ngồi trước mặt, đang kể về những năm tháng đau khổ trong đời. Mẹ kể chuyện cho người mới gặp lần đầu, sao có vẻ tin cậy đến thế? Phải chăng vì từ lâu không có ai lắng nghe bằng tất cả tấm lòng, hay vì sợi dây tình cảm thiêng liêng đã rung lên thành điệu nhạc vô thanh? Nhìn mẹ say sưa nói mà nội tâm Sư đang bị đấu tranh bởi hai tư tưởng trái ngược: Bên nầy là tình cảm thông thường, Sư muốn ôm chầm lấy mẹ, khát khao hít đầy lồng ngực mùi mồ hôi quen thuộc của mẹ. Bên kia là trí tuệ và lòng từ của một bậc chân tu, muốn độ mẹ hiền qua biển khổ sinh tử. Nếu hôm nay Sư nhận mẹ, đưa mẹ về chùa phụng dưỡng, thì tình cảm mẹ con sẽ khiến bà sinh tâm chiếm hữu, ỷ lại và khinh mạn đối với chư Tăng. Mẹ vẫn còn tâm chúng sinh với đủ tật tham, sân, si sao khỏi tổn phước; như thế thương mẹ mà vô tình làm hại mẹ. Còn nếu không nhận mẹ con, để mẹ cứ mãi cô đơn nơi quán nước hiu quạnh, thì chẳng hóa ra bạc bẽo tàn nhẫn lắm sao? Làm thế nào trọn vẹn cả đôi đường, Sư có thể gần gũi chăm sóc mẹ, hướng dẫn mẹ tu hành theo chánh pháp, mà mẹ không tổn phước khi sử dụng của tín thí đàn na.

Đạo Hạnh Thiền Sư, Thế Kỷ 12 VN

Sư trầm tư suy tính. Chợt một ý nghĩ lóe lên. Ngài mỉm cười tự nhủ: “Phải, cần phải làm như thế”. Nắm bàn tay nhăn nheo gầy guộc của mẹ, Ngài dịu dàng hỏi:

- Này cụ, cụ có muốn theo tôi về nương cửa Phật chăng?

Bà cụ không tin vào tai mình:

- Bạch cụ, cụ dạy gì con không rõ?

Sư thương cảm nhắc lại từng tiếng:

- Bà cụ muốn theo tôi về chùa chăng?

Bà cụ mừng rỡ thốt lên:

- Được thế thì còn gì bằng? Nhưng… bạch cụ, con già yếu thế nầy, đâu thể làm công quả cho nhà chùa được ạ?

Sư vỗ nhẹ vào tay mẹ:

- Bà cụ đừng lo. Người khỏe có việc của người khỏe, người già yếu khắc có việc cho người già. Bà cụ ở chùa, sớm hôm niệm Phật, biết đâu nhờ Phật độ trì mà sớm tìm gặp con mình. Để tôi về chùa bạch cùng chúng Tăng, nếu được chấp thuận, tôi sẽ đến đây đón cụ.

Từ đó, bà cụ về ở am tranh nhỏ sau chùa. Không ai biết bà là mẹ của Hòa thượng trụ trì, ngay cả bà cũng không ngờ mình đang sống cạnh người con yêu quý. Sáng nào Sư cũng đến thăm bà, hỏi han sức khỏe, nhắc bà niệm Phật. Việc công quả hàng ngày, Sư phân công bà nhặt hoa lá rụng trước am, khỏe làm mệt nghỉ. Công việc bà thích nhất là nhặt hoa sứ. Cây sứ lâu năm trồng phía trước am tranh của bà, hoa nở trắng cây thơm ngát. Bà nâng niu từng đóa, chọn những hoa còn tươi rửa sạch, đặt vào hai bát sứ. Một bát bà dâng cúng Phật – bức tượng Đức Phật Di-Đà mà Sư đã đưa đến tặng bà. Bát hoa thứ hai, bà để trên bàn dành biếu Sư. Mỗi lần đến, Sư đều ngồi trên chiếc ghế trên bàn, nâng bát hoa sứ bằng hai tay, nhìn thật lâu vào những cánh hoa, sau đó mỉm cười cảm ơn bà cụ.

Không nói ra nhưng bà cũng biết Ngài trân trọng tấm lòng của bà đối với Ngài. Chỉ có thế cũng đủ làm bà cụ vui suốt ngày. Bà ôm ấp niềm vui ấy khi làm việc, khi ăn cơm, khi nghỉ ngơi và cả trong khi ngủ. Theo lời dặn của Sư, lúc nào bà cũng cầm trên tay chuỗi hạt bồ đề do Sư tặng, tay lần chuỗi miệng niệm thầm Lục tự Di-Đà. Khi làm việc, bà mang chuỗi vào cổ tay. Như thế, xâu chuỗi hạt theo bà như hình với bóng.

Đối với bà, đó là vật quý báu nhất đời vì tiếp xúc với nó, bà luôn luôn gần gũi với Đức Phật và với Hòa thượng trụ trì – người vừa có tình thầy trò vừa có một tình cảm nào đó thật lạ mà bà không dám phân tích. Bà chỉ muốn cố gắng làm vui lòng Hòa thượng bằng cách vâng theo thật đúng, thật siêng năng những lời chỉ bảo của Ngài. Mà Ngài có nói gì nhiều đâu, chỉ dặn dò luôn nhớ niệm Phật, ăn ngủ điều độ, chớ lo nghĩ buồn phiền. Cũng thật lạ, từ khi về nương dưới mái chùa, mỗi ngày được Sư đến thăm dù chỉ giây lát, bà tự nhiên thấy mình vô cùng hạnh phúc. Nỗi nhớ mong đứa con lưu lạc từ lâu nặng trĩu, bây giờ bỗng tiêu tan đâu mất.

Trước đây, mỗi khi trời chập choạng tối là bà cảm nhận sự cô đơn quạnh quẽ hơn bao giờ hết. Bây giờ cảm giác ấy không còn, thay vào đó là sự bình ổn của thân tâm. Đêm đến, bà rửa mặt sạch sẽ, đến bàn thờ Phật thắp một nén hương. Bà không biết khấn vái gì nhiều, chỉ dâng lên Đức Phật lời cảm tạ chân thành vì đã ban cho mình niềm vui được sống và tu dưới sự dẫn dắt của Hòa thượng. Bà cầu nguyện Đức Phật phò hộ độ trì cho Hòa thượng mạnh khỏe sống lâu để làm lợi ích cho nhiều người. Sau đó, bà ngồi xếp chân trên chiếc giường tre, lần chuỗi niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà. Khi đã mỏi, bà nằm xuống nhẹ nhàng thảnh thơi đi vào giấc ngủ.

Ngày tháng êm đềm trôi qua. Nhờ Hòa thượng cùng chư Tăng bổn tự, bà cụ đã được an vui trong tuổi xế chiều, được đầy đủ về vật chất trong giới hạn của người tu, được thấm nhuần Phật pháp và tu hành theo giáo lý nhà Phật. Bà cụ đã biết gạt bỏ phiền não, rửa sạch tập khí, tịnh tu ba nghiệp, một lòng niệm Phật cầu được vãng sanh. Có thể nói, đây là giai đoạn hạnh phúc sung mãn nhất trong đời bà.

Một buổi sáng, bà cụ bỗng lên cơn sốt, đầu nhức mắt hoa, tay chân rũ liệt. Sư đến thăm như thường lệ, thấy thế vội lấy nước bà uống, xoa bóp tay chân bà rồi tự mình xuống bếp, nấu cho bà bát cháo giải cảm. Bà cụ, tuy lòng áy náy vì sự chăm lo ấy của Sư, nhưng tận sâu xa của cõi lòng người mẹ vẫn thấy vô cùng sung sướng. Bà nhớ ngày xưa, có lần bà bị mệt, đứa con nhỏ thân yêu của bà cũng quấn quýt săn sóc bà như thế. Có cái gì nửa lạ nửa quen nơi vị Hòa thượng khả kính nầy, bà đã cảm nhận từ lâu nhưng không dám lộ ra. Vả lại, mọi người đều rất tốt đối với bà. Họ ân cần đối xử thăm nom bà như một bà cụ làm công quả, một bà cụ cô đơn được chùa cưu mang. Và bà thì có mong điều gì hơn thế, luôn tỏ lòng cung kính biết ơn đối với chư Tăng, đặc biệt sâu sắc biết ơn Hòa thượng trụ trì đã từ bi ban cho mình những ngày tháng cuối đời thật bình an đầy đủ.

Người già như ngọn đèn cạn dầu, chỉ cần một cơn gió nhẹ là lịm tắt. Bà cụ từ trẻ đến giờ, nhờ Trời tuy lam lũ nhưng ít đau ốm nặng. Lần này, chỉ một trận cảm xoàng nhưng sao bao nhiêu sức lực trong người hầu như cạn kiệt. Toàn thân bà ê ẩm, rét run từng cơn, môi khô miệng đắng. Mọi việc thuốc thang chăm sóc, Sư đều tự tay làm một cách chu đáo tận tình. Nhiều lần bà cụ vừa khóc vừa thưa cùng Sư:

- Bạch cụ, xin cụ hãy để mặc con, con khắc tự mình làm được. Cụ chăm con thế nầy, con e tổn phước lắm ạ.

Sư dịu dàng nói:

- Phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật. Bà cụ chỉ có một mình, không con không cháu, tôi thay con bà lo cho bà cũng được, có sao đâu?

Đại chúng biết chuyện, vừa thương bà cụ vừa xót cho Sư, nên đưa một nữ Phật tử đến, bạch rằng:

- Kính bạch Thầy, vị nữ thí chủ nầy có hoàn cảnh rất tội nghiệp, chồng con đều mất, không nơi nương tựa, xin đến chùa ta làm công quả. Chúng con kính trình Thầy, xem có thể nhờ nữ thí chủ đây chăm sóc bệnh tình bà cụ được chăng?

Bằng đôi mắt u ẩn, Sư nhìn người đệ tử, nhìn sang người phụ nữ đang chấp tay cúi đầu. Ngài trầm ngâm giây lâu, sau mới bảo:

- Thôi được, cứ để nữ thí chủ đây ở chung với bà cụ, hôm sớm có nhau. Hai ngày nữa, Thầy có việc đi xa vài hôm. Bệnh tình bà cụ không biết sẽ như thế nào, tuổi già… thật khó lường trước được. Mọi việc ở nhà, Thầy nhờ các chú lo liệu cho. Có điều… nếu bà cụ qua đời, các chú hãy thay Thầy làm đủ lễ cho chu tất, nhưng đừng đậy nắp áo quan. Đợi Thầy về sẽ tính. Thầy sẽ cố thu xếp công việc sớm, xong lúc nào Thầy về ngay lúc ấy.

Trước khi ra đi, Sư đến am tranh ngồi với bà cụ rất lâu. Không biết Sư nói với bà những gì, trấn an bà thế nào, nhưng khi Ngài đứng lên từ giã, bà cụ đã để rơi những giọt nước mắt hạnh phúc tột cùng. Bà đã trải qua những giây phút an lạc. Đã được sống trong hào quang của chư Phật, đã trọn vẹn tin tưởng rằng khi trút hơi thở cuối cùng, bà sẽ được vãng sanh. Cái chết đối với bà giờ đây như chuyến đi xa hứa hẹn nhiều điều kỳ thú, và bà bình thản chờ đợi nó. Có điều, bà hơi băn khoan, không biết Hòa thượng có trở về kịp để tiễn đưa mình không. Thật là lạ trong những giờ phút sau cùng của cuộc đời, bà lại ít nhớ đến đứa con lưu lạc của mình, mà chỉ nghĩ về Hòa thượng như một nơi nương tựa vững chắc, một dây liên kết giữa mình và Tam Bảo.

Bà nhớ câu chuyện cổ tích kể về cô gái nghèo nhờ Bụt hóa phép trở thành người đẹp nhất và hạnh phúc nhất trần gian. Hòa thượng có thể là hiện thân của Bụt, Ngài thương xót hoàn cảnh nghèo khó neo đơn của bà nên đến với bà bằng tấm lòng từ bi – ban vui và cứu khổ.

Hòa thượng đi rồi, đại chúng phân công nhau hàng ngày trợ niệm cho bà cụ. Bà không mở mắt nổi, thở yếu dần nhưng tai vẫn nghe, ý vẫn duyên theo từng tiếng niệm Phật. Những hình ảnh dĩ vãng lần lượt hiện về, từ thuở nhỏ mồ côi đến khi lấy chồng sinh con, nhất là thời gian bốn mươi năm đằng đẳng lang thang tìm kiếm đứa con mất tích. Bà thấy rõ đời mình quá nhiều đau khổ mà chẳng có mấy niềm vui.

Chỉ từ lúc gặp Hòa thượng, được nương nhờ cửa Phật, bà mới biết thế nào là hạnh phúc. Nhờ Hòa thượng chỉ dạy, bà hiểu rằng do bao đời trước bà đã tạo nhân xấu, nên kiếp nầy bà phải nhận quả khổ. Bà không còn oán trách người, một lòng niệm Lục tự Di-Đà nguyện khi chết được vãng sinh về Tây phương Cực-Lạc, nơi có Đức Phật A-Di-Đà và Bồ-tát Quán Thế Âm. Làng xưa của bà có một ngôi chùa nhỏ, trước sân chùa là bức tượng Mẹ hiền Quán Thế Âm cầm tịnh bình và nhành dương liễu. Gương mặt mẹ thật dịu hiền, đôi mắt từ ái nhìn bà mỗi khi bà đến chấp tay cung kính lễ. Chỉ cần nhìn gương mặt ấy, đôi mắt ấy, bà đã thấy trong lòng ấm áp, bao nhiêu buồn đau hận tủi tự nhiên vơi nhẹ đi nhiều.

Nghĩ đến Mẹ hiền Quán Thế Âm, đến Đức Phật A-Di-Đà, tâm bà cụ chợt lắng xuống, chỉ còn hiển hiện sáu chữ Nam mô A-Di-Đà Phật tràn đầy khắp không gian, lồng lộng đất trời. Bà đột nhiên thấy mình rơi vào một đường hầm sâu hun hút, và cuối đường hầm ấy là một vùng ánh sáng chan hòa rực rỡ. Và kìa! Đức Phật A-Di-Đà và chư Thánh chúng hiện ra rõ ràng trước mắt bà, lung linh trong vòng hào quang chói lọi. Vị Bồ-tát đứng bên phải Đức Phật cầm một hoa sen hé nở, tỏa hương thơm ngát. Bồ-tát Quán Thế Âm đứng bên trái, hình dáng quen thuộc với tịnh bình và nhành dương liễu. Ngài mỉm cười với bà, phẩy nhẹ cành dương về phía bà. Lập tức, bà cảm nhận những giọt nước mát thấm đượm vào từng lỗ chân lông, người thấy nhẹ nhàng thanh thản lạ lùng. Bao nhiêu đau đớn của thể xác tự nhiên biến mất, bà như ngợp đi, như hòa tan vào trong vùng ánh sáng huyền diệu của chư Phật Bồ-tát.

Một mùi hương nhẹ nhàng ở đâu tỏa ra khắp phòng. Mọi người nhìn nhau thầm hỏi. Bà cụ vẫn nằm đó, gương mặt rạng rỡ bình an như đang trong giấc ngủ say không mộng mị. Một âm thanh nào trên cao khi gần khi xa, thoạt có thoạt không, thánh thoát du dương chưa từng có trong đời. Bà cụ ra đi an lành thanh thản quá đỗi, như đã rũ sạch mọi trần lao phiền não, mọi gánh phiền não của suốt mấy mươi năm trả nợ trần gian.

Những việc hậu sự cho bà cụ được chư Tăng và Phật tử bổn tự thực hiện chu đáo, theo lời dặn của Hòa thượng trước đây. Bà cụ được tẩm liệm, được đặt vào chiếc áo quan chưa đậy nắp, luôn có người bên cạnh hương khói tụng niệm suốt ngày đêm. Tất cả mọi người, kể cả bà cụ trong quan, đều như mong ngóng Hòa thượng trở về.

Và Ngài đã về, hai ngày sau khi bà cụ mất. Vừa đến chùa, chưa kịp rửa mặt, Sư đã vội đi qua am tranh. Từng bước chân chánh niệm theo công phu từ lâu hành trì, nay gấp gáp hơn. Biết tâm hơi xao động, Sư vội hít vào sâu thở ra dài vài lần. Trở về với tâm an nhiên, Ngài bước vào ngưỡng cửa. Mẹ Ngài như trong giấc ngủ, gương mặt vẫn tươi, nụ cười như đang phảng phất trên môi. Tưởng chừng chỉ cần Sư lên tiếng gọi, bà sẽ mở mắt ra, cười với Ngài một nụ cười móm mém và hồn nhiên như trẻ nhỏ.

Thắp nén hương trầm cắm vào bát hương còn nghi ngút khói, Sư chậm rãi từng bước đi quanh quan tài bà cụ ba vòng. Đại chúng đang tụ tập trước am, ngạc nhiên từng cử chỉ lạ lùng của Hòa thượng. Chẳng ai hiểu vì sao một vị Hòa thượng đạo cao đức trọng mà lại có thái độ thành kính khác thường đối với bà cụ không họ hàng thân thích. Từ khi bà cụ về đây, Ngài không chỉ ban cho bà sự thông cảm, bao dung, mà còn có cái gì ân cần, quan tâm đặc biệt. Cho đến hôm nay, thấy Ngài đi nhiễu quanh bà cụ ba vòng bằng những bước chân tuy nhẹ nhàng nhưng có vẻ trầm tư, câu hỏi “Phải chăng có mối liên hệ nào giữa Hòa thượng và bà cụ?” từ lâu âm ỉ chợt dấy lên trong tâm đại chúng.

Có lý nào…

Tiếng Sư vang lên làm mọi người giật mình lắng nghe:

- Đức Phật từng dạy: “Một người tu đắc đạo, cửu huyền thất tổ sinh thiên”. Nếu quả thật lời nầy không hư dối, xin Tam Bảo chứng minh cho lời nguyền của đệ tử: Chiếc quan tài nầy sẽ bay lên hư không!

Hòa thượng vừa dứt tiếng, chiếc quan tài bỗng như có một lực đẩy, từ từ nâng lên cao, sát mái am tranh, lơ lửng. Mọi người đồng loạt quỳ xuống, chắp tay, ngẩng mặt nhìn lên trong một niềm kính ngưỡng tột cùng. Mắt Hòa thượng sáng ngời, an trú trong giây phút hiện tại tuyệt vời, một giây mà đằng đẵng thiên thu.

Tâm hiếu của người con hòa lẫn trong tâm từ của một bậc chân tu đắc đạo, nở tung như đóa sen tỏa hương tinh khiết, tuy vô hình mà bất diệt, tuy vô thanh mà tràn ngập âm hưởng diệu kỳ, tuy vô tướng mà chan hòa khắp cùng cõi giới.

Khi chiếc áo quan nhẹ nhàng trở về chỗ cũ, người ta thấy gương mặt bà cụ – bây giờ đã rõ là thân mẫu của Hòa thượng trụ trì – tươi nhuận rạng rỡ. Mùi hương lạ lại tỏa ra phảng phất quanh nhà. Mọi người đứng bất động, đắm mình trong niềm phúc lạc ngàn năm chưa dễ có.

Nơi quán nước ngày xưa của mẹ, Sư lập một ngôi chùa đặt tên là Mại trà lai Tự. Am tranh mẹ từng ở có tên là Dưỡng mẫu Đường, sớm chiều khói hương nghi ngút.

Hòa thượng để lại cho đời một tấm gương đại hiếu sáng ngời muôn thuở.

Ngài là Thiền sư Tông Diễn, hiệu Chơn Dung (1640-1711), đời vua Lê Hy Tông, thuộc tông Tào Động, quê ở thôn Phú Quân, huyện Cẩm Giang. Chính Ngài, bằng phương tiện thiện xảo, đã giúp nhà vua cải ác tùng thiện, quay về với Phật pháp. Đối với triều đình và môn đồ, Ngài là Thiền sư Tông Diễn; nhưng đối với dân chúng, Ngài là Hòa Thượng Cua – cái tên dân dã mộc mạc nhưng thật gần gũi thân thương.

Hình ảnh Ngài trong lòng mọi người, đẹp đẽ chói ngời muôn thuở, không phải là hình ảnh của vị Thiền sư, càng không phải của một tu sĩ được vua ban chức Ngự Tiền Chi Quân và áo gấm. Đó là hình ảnh của một bậc chân tu tốt đời sáng đạo, vừa tu hành có kết quả vừa lo tròn chữ hiếu đối với mẹ già một cách vượt thường đầy trí tuệ.

Chúng ta ôn chuyện người xưa để tự nhắc mình một tấm gương đại hiếu sáng ngời.

Không chỉ Ấn Độ mới có chuyện Đức Mục-Kiền-Liên, Xá-Lợi-Phất; không chỉ Trung Hoa mới có chuyện 24 người con hiếu thảo, mà ở Việt Nam ta cũng có những câu chuyện thật đã làm cảm động lòng Trời. Hòa thượng Cua đã lo cho mẹ những ngày cuối đời hạnh phúc, lại độ mẹ được vãng sanh về cõi lành. Còn chúng ta, đã báo hiếu cho cha mẹ những gì khi các Người còn sinh tiền và khi đã khuất bóng? – Đó là câu hỏi mà mỗi người chúng ta, không phân biệt tôn giáo, tuổi tác, không kể xuất gia hay tại gia, đều tự mình suy gẫm và tìm cách trả lời.



Posted on September 2nd, 2011 by anh

Read full article No Comments
Tiếu Ngạo Giang Hồ:Phân Tách Gút Mắc

Thầy Hằng Trường thuyết giảng trên TV và Radio Khai Tâm

Trường Anh ghi lại

Từ trước 1975 tại Viêt Nam và các nước tại Đông Nam Á cho đến bây giờ không mấy người là không biết đến các truyện trường thiên tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung. Trước kia, các nhật báo ở Sài Gòn bán chạy như tôm tươi một phần cũng nhờ có đăng truyện của Kim Dung mỗi ngày. Lúc đó người dân sống trong chế độ Cộng Sản không được đọc, nhưng bây giờ tại Việt Nam, Trung Cộng, Bắc Hàn họ lại say mê theo dõi phim truyện và bị ảnh hưởng rất mạnh mẽ bởi những triết lý và văn hóa của cốt truyện. Hầu hết các truyện được dàn dựng thành phim chiếu ở rạp cũng như trên truyền hình. Có truyện được làm thành phim nhiều lần, như cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ. Theo cuộc thăm dò bình chọn của độc giả trên trang mạng của Kim Dung, thì nhân vật nam được yêu thích nhất trong các truyện là Lệnh Hồ Xung, nhân vật nữ chính là Hoàng Dung và Doanh Doanh, truyện hay nhất là Tiếu Ngạo Giang Hồ, nhân vật đáng ghét nhất là Nhạc Bất Quần, cặp tình nhân lý tưởng nhất là Dương Qua-Tiểu Long Nữ và Lệnh Hồ Xung-Doanh Doanh, tuyệt học võ lâm là Độc Cô Cửu Kiếm…Theo đó, không nghi ngờ gì mà cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ đã và đang rất ăn khách và được ưa chuộng khắp nơi. Sở dĩ được như vậy vì tình tiết rất ly kỳ, lý thú của một câu chuyện kéo dài nhiều năm cũng như được cấu trúc trên nhiều nét đặc thù của nền văn hóa đông phương với nguyên lý nhân quả, nghiệp chướng, nghiệp báo…Không như đa số những phim ảnh của Mỹ hay Tây phương với cốt truyện rất ngắn chỉ kéo dài vài ngày hay vài tháng, người đọc thường không nghiệm ra những bài học nhân quả gì cả từ những câu truyện ngắn đó.

Tóm tắt Câu chuyện Tiếu Ngạo Giang Hồ:

TNGH là tên của một tấu khúc cầm tiêu do Lưu Chính Phong (phái Hành Sơn) và Khúc Dương (Nhật Nguyệt Thần Giáo tức Minh Giáo, giang hồ gọi là Ma Giáo) cùng sáng tác. Hai tâm hồn chánh và tà hòa hợp huyền cầm và sáo nghe rất bi hùng trầm bổng và tràn đầy tình cảm. Rất tiếc hai người này bị phái Tung Sơn bức hại chết ở núi Hằng Sơn. Khi chết hai người đã trao tặng cuốn nhạc khúc cho Lệnh Hồ Xung. Đây chính là duyên lành nối kết LHX và Doanh Doanh thành một mối tình nóng bỏng, hòa hợp chánh tà, chân thành, tiến hóa tốt đẹp một cách hoàn mãn kéo dài cho đến hồi kết thúc. Lệnh Hồ Xung là con nuôi và đại đệ tử của Nhạc Bất Quần và Ninh Trung Tắc phái Hoa Sơn, một trong Ngũ Nhạc Kiếm Phái (Hoa Sơn, Tung Sơn, Hằng Sơn, Hành Sơn và Thái Sơn). Nhạc Bất Quần tướng tá đạo mạo nổi tiếng là Quân Tử Kiếm, âm thầm thực hiện một ý đồ là tự mình sẽ trở nên võ lâm minh chủ của cả năm phái và trả thù cho sư môn. Ông không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào để thực hiện ý đồ âm hiểm này. Ông đã đoạt được Tịch Tà Kiếm Phổ của nhà họ Lâm từ Phước Oai Tiêu Cục hai cha con Lâm Bình Chi. Cuốn này bắt nguồn từ cuốn Quỳ Hoa Bảo Điển, mà người tập luyện phải “đổi giống” tức là bị thiến hoạn. Trong chuyện cũng có những người khác đã tập luyện môn này đó là Đông Phương Bất Bại và Lâm Bình Chi…Đường kiếm phức tạp và nhanh kinh hồn nên cần phải có khí lực cao thâm mới thi thố được. Các chính phái khác như Tung Sơn và Thanh Thành cũng nhào vô tranh giành giết hại lẫn nhau tạo ra biết bao thảm cảnh. Đứng bên ngoài cuộc tranh chấp, làm như một ngư ông đắc lợi, Nhật Nguyệt Thần Giáo với Đông Phương Bất Bại và sau đó với Nhậm Ngã Hành, lãnh đạo các tà phái trong giang hồ, lúc nào cũng muốn diệt trừ các chính giáo gồm có Ngũ Nhạc Kiếm Phái, Thiếu Lâm và Võ Đang. Trong trận chiến đó Lệnh Hồ Xung là một lãng tử vô tư lúc đầu không đoái hoài gì đến bất cứ một tranh chấp nào. Y tối ngày uống rượu, rong chơi với sư muội Nhạc Linh San, đi ra giang hồ đây đó, cứu ni cô Nghi Lâm phái Hằng Sơn, kết bạn với Điền Bá Quang, bị sư phụ Nhạc Bất Quần phạt phải nhập thất một năm ở phía sau núi Hoa Sơn để ăn năn hối lỗi.

Ở trong mật động phía sau Hoa Sơn đó, tình cờ Lệnh Hồ Xung được thái sư thúc Phong Thanh Dương truyền thụ cho môn Độc Cô Cửu Kiếm, có nguồn gốc từ Độc Cô Cầu Bại, một kiếm gia suốt đời không tìm ra ai đánh bại được mình. Đặc tính của Độc Cô Cửu Kiếm là vô chiêu, kiếm sĩ quan sát thật kỹ chỗ sơ hở của địch và dùng ý kiếm tấn công ngay vào đó để phá địch. Tuy nhiên chân khí ở trong người LHX còn non kém, nên khi vừa ra khỏi động đi xuống, liền bị Đào Cốc Lục Tiên nghịch ngợm tài khôn chữa trị và truyền các luồng khí lực khác nhau vào trong cơ thể, khiến LHX khốn đốn nửa tỉnh nửa mê, đau đớn cực kỳ. Sau đó rất nhiều biến cố xảy ra, phần bị vu oan phần bệnh hoạn, khiến LHX tình cờ gặp Nhậm Doanh Doanh, con gái của Giáo Chủ “Ma Giáo” Nhậm Ngã Hành. Qua bao khổ sở, hai người hiểu biết ý nhau và yêu nhau. Doanh Doanh dậy LHX chơi đàn cầm, rồi nàng còn hy sinh cõng LHX lên Thiếu Lâm cam chịu giam giữ tại chùa và đổi lại cầu xin Phương Chứng đại sư dậy LHX môn Dịch Cân Kinh để có thể chữa trị cho LHX. Tuy nhiên kế hoạch không đạt được vì LHX không muốn trở thành đệ tử phái Thiếu Lâm, là điều kiện mà Phương Chứng đòi hỏi để ngài truyền Dịch Cân Kinh cho LHX. Câu chuyện còn rất dài, trong phạm vi bài này, chỉ xin nói thật ngắn lại là sau đó LHX, có lúc đi một mình, có lúc đồng hành với Doanh Doanh, gián tiếp hay trực tiếp liên hệ vào các diễn biến của các cuộc tranh chấp trong chốn giang hồ. Cặp tình nhân yêu thương nhau, tin tưởng nhau, bổ túc cho nhau, hy sinh cho nhau và rất là tự nhiên hóa giải hết tất cả các tranh chấp của giang hồ. Họ không màng danh lợi, LHX từ bỏ chức chưởng môn phái Hằng Sơn, Doanh Doanh thôi không làm giáo chủ Nhật Nguyệt Thần Giáo, cùng nhau qui ẩn, gác kiếm, nhưng tiếp tục hòa tấu khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ.

Tài Tử: Lệnh Hồ Xung và Doanh Doanh

Nếu chưa đọc truyện hay coi phim TNGH, bạn nên coi một lần cho biết. Phim này đã được dàn dựng làm đi làm lại ở nhiều chỗ khác nhau tới cả chục lần, mà số khan giả vẫn rất đông. Có nhiều người đã say mê đọc hay coi rồi, nhưng không ngờ bên trong câu chuyện, một triết lý sống thâm thúy mà tác giả Kim Dung đã dầy công ẩn dấu gói ghém trong đó. Tên của mỗi nhân vật, tên của mỗi chiêu kiếm, tình tiết kết cấu của TNGH đều mang những ý nghĩa thâm sâu của triết lý Phật giáo và khoa đông phương âm dương học. Mời bạn đọc tìm hiểu tiếp sau đây qua nghiên cứu sâu xa của Thầy Hằng Trường (Thầy HT). Thầy HT đã trình bày bài giảng này trên chương trình truyền hình TV Khai Tâm và truyền thanh Radio Khai Tâm và đã phát sóng khắp nơi trong năm 2011.

Thắt Gút Nghiệp Chướng:

Thường một sợi dây dài nếu dùng không khéo bị rối hay bị thắt gút lại, một hai gút thì tháo mở ra khá dễ, nhưng năm bẩy gút cộng với hai ba dây thắt chòng chéo lên nhau, tháo gỡ ra rất khó. Tác giả Kim Dung viết truyện rất dài bao gồm nhiều năm nhiều đời của các nhân vật. Người đọc là chúng ta theo dõi các tình tiết thăng trầm lên voi xuống chó, thương cảm với những biến hóa không ngừng của các nhân vật và rất hài lòng với những hệ lụy nhân quả xảy ra. Tại sao? Vì những hệ lụy nhân quả này có một triết lý nằm phía sau, rất có ý nghĩa, là những bài học của cuộc sống mà khiến chúng ta phải suy nghĩ và có thể áp dụng được trong cuộc sống riêng của mình. Thường cốt chuyện nào cũng có một gút thắt chính. Tức là một sự kiện, một lý do sâu thẳm, một đầu dây mối nhợ hay một nhân vật mà từ đó tất cả mọi chuyện mới từ từ bắt đầu và triển khai. Theo nhà Phật, một chuyện xẩy ra phải bắt nguồn từ tâm ý của một người nào đó, người đó chính là gút thắt của câu chuyện. Người này tạo ra những gút thắt nghiệp chướng, bắt nguồn từ cái tâm địa thiện ác của người đó mà các mong cầu được sắp đặt ra. Trong TNGH, gút thắt đó là gì? Đó là việc Nhạc Bất Quần có dã tâm và lòng tham danh quyền, muốn đoạt được Tịch Tà Kiếm Phổ (bắt nguồn từ Quỳ Hoa Bảo Điển) để trả thù, để phục hưng tông môn của phái Hoa Sơn và cá nhân ông được trở nên bá chủ võ lâm.

Nhạc Bất Quần (Nhạc là núi, bất là không, quần là quần chúng, quần thể) có nghĩa là hòn núi đứng một mình, người không hợp quần, không cùng ở với quần chúng, vượt khỏi mọi người, vượt hơn bình thường, cho mình là trên hết, ngọn núi đứng một mình không được đẹp lắm, ngọn núi đó tượng trưng tâm thức vị ngã. Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận của ngài bồ tát Mã Minh, Phật tánh của một người có thể được xét ở ba khía cạnh: thể, tướng và dụng. Thể là bản thể, bản tánh hay tâm tánh của mình, Tướng là hình tướng, dáng vẻ bên ngoài và chí hướng hay lòng mong cầu của mình, còn Dụng là khả năng làm việc của ta. Mổ xẻ Nhạc Bất Quần (NBQ) thì thấy thể hay bản tánh của ông ta là người hữu tâm, tướng hay chí hướng là người hữu cầu và dụng hay khả năng là người hữu chiêu. Tức là ông ta có ba cái “hữu”.

Hữu tâm, tức là nói bản tánh của NBQ là kiêu căng đầy tâm cơ, mưu mô, tính toán, thù dai, để bụng, nhưng không lộ ra mặt. Ông được nổi tiếng là quân tử kiếm, vì bề ngoài lúc nào cũng tỏ ra đạo mạo đường đường chính chính, ăn mặc trang nghiêm, ăn nói trang trọng. Nhưng bên trong thâm hiểm mưu đồ chiếm đoạt Tịch Tà Kiếm Phổ bằng bất cứ thủ đoạn nào kể cả hại vợ, hại con, hại đệ tử, nói dối, giết người, vu oan giá họa. Nghĩa là ông ta rất phức tạp, không giản dị, và có dã tâm mưu đồ bất chánh.

Hữu cầu, tức là chí hướng của NBQ rất rõ rệt là muốn trả thù cho tông môn, phải học được võ công cái thế và làm bá chủ võ lâm. Sự mong cầu này là gút thắt chính của câu chuyện TNGH. Nếu không có sự kiện này thì không có chuyện TNGH gì cả. Phái Hoa Sơn trước kia là một, nhưng sau đó chia ra làm hai: Khí tông và Kiếm tông. NBQ thuộc phe Khí Tông. Tuy làm chưởng môn nhân Hoa Sơn, nhưng phe Kiếm Tông toa rập với Tả Lãnh Thiền luôn luôn đe dọa tiêu diệt NBQ. Vì thế với lòng uất hận sâu xa, NBQ lúc nào cũng toan tính diệt sạch bọn kiếm tông, thanh lý nội bộ, và từ bản thân võ nghệ cao thâm sẽ trở nên bá chủ võ lâm. Tuy nhiên từ khi chiếm đoạt được Tịch Tà Kiếm Phổ, cái bản ngã của ông bị suy sụp trở nên xấu xa hơn, không còn che dấu được con người thật, tất cả từ từ bị phô bày, ông tự hại cái mạng của mình, hại luôn vợ, con, đệ tử và làm tan rã tông phái của mình.

Hữu chiêu, tuy là NBQ thuộc Khí Tông và rất tự hào với môn phái, theo đó khi đánh kiếm thì chú trọng đến nội khí hơn là chiêu số. Nhưng sau đó chiếm đoạt được và luyện xong Tịch Tà Kiếm Phổ, võ thuật của ông trở nên cao thâm với những chiêu số tuyệt luân cực kỳ nhanh mạnh (chủ trương của kiếm tông). Tuy nhiên đường kiếm của ông vẫn không vượt ra khỏi chiêu số và hình tướng bài bản của kiếm phổ. NBQ trở nên mẫu thuẫn trong căn bản và niềm tin của ông. Vô hình chung ông đổi 180 độ từ Khí tông ra Kiếm tông. Đó chẳng phải là do động cơ mong cầu vị ngã mà sinh ra sự thay đổi ư? Trong cuộc sống thực tế cũng vậy, mặc dầu chúng ta có tu luyện tu hành, nhưng vì lòng tham cầu quá mạnh, chúng ta cũng thường hay phạm giới, trở nên mâu thuẫn, đi ngược lại công trình tu luyện hay nền giáo dục căn bản mình được hấp thụ. Thí dụ ta thường ngày ăn chay niệm Phật, đùng một cái vào một ngày đẹp trời, tự dưng thèm ăn quá, len lén ra nhà hàng ăn mặn đánh luôn mấy cái đùi gà thơm ngon. Như vậy là chúng ta đã hy sinh cái giá trị nhân bản và căn bản mà mình đã theo đuổi. Rồi từ đó chúng ta trở nên con người hai mặt, sống giả dối, khó đứng thẳng hiên ngang trong xã hội.

Những nhân vật tiêu biểu thắt gút khác trong TNGH:

1. Hữu tâm: Đông Phương Bất Bại ( Nghĩa là không hề bị thua ở phương Đông), ý nói rằng cái tâm vị ngã thì làm chúa trùm trong cuộc sống. Phương Đông thuộc hành mộc, là phương vị của sinh khí. Đáng lẽ phải tỏa ra cái tốt tích cực sáng ngời, nhưng ĐPBB lại chiếu ra cái bản ngã xấu, kiêu ngạo, cho mình là đúng không bao giờ sai hay thua. Trong cuộc đời thăng trầm, không ai nên vỗ ngực cho mình là đúng là hơn là thắng hoài. Đó là lý do ĐPBB tượng trưng cho hữu tâm và cực âm. Ông ta luyện Quỳ Hoa Bảo Điển đến chỗ cực kỳ tinh xảo, phải đổi giống thành ái nam ái nữ, sống thu rút trong phòng, tùy thuộc vào một người bạn đời thân tín là Dương Liên Đình, không tiếp xúc với bên ngoài. Cuối cùng tuy võ công cực kỳ cao thâm, ông bị bại và bị giết chết bởi sự hợp sức của bốn đại cao thủ, đó là Doanh Doanh, LHXung, Nhậm Ngã Hành và Hướng Văn Thiên. Trước khi chết ông còn thành thật công nhận võ công của LH Xung và NN Hành rất cao thâm, nhưng nếu một chọi một ông sẽ không thất bại.

2. Hữu cầu:

Tả Lãnh Thiền (Tả là bên trái, sai trái, Lãnh Thiền là thiền lạnh), ý nói là thiền lạnh, thiền thiên tả, tu sai đường, nghiêng về bên trái, thiền mà không tạo ra sức nóng hay sự sống. Ông nầy mưu đồ tàn bạo, giết người không gớm tay, lộ diện rõ ràng không ẩn núp dấu diếm ý đồ. Ông nói huỵch toẹt ra là ông muốn làm minh chủ võ lâm, nếu đối thủ không theo, ông sẽ tiêu diệt họ. Nhưng chính ông đã bị NBQ lật tẩy đánh cho mù mắt và cuối cùng cũng bị chết trong hang động sau núi Hoa Sơn.

Lâm Bình Chi ( Lâm là rừng, rậm rạp, thâm hiểm, Bình là an lành hòa bình, chi là “cái đó” hay cái tâm vị ngã), ý nói là làm cho cái tâm vị ngã của mình được an ổn, nhưng mà cái tâm ở trong rừng rậm làm sao an bình được. Lúc đầu còn là một thiếu niên ở với bố mẹ tại Phước Oai Tiêu Cục thì khá dễ thương. Nhưng sau đó nhà cửa tan nát, cha mẹ bị thảm sát, LBC trở nên một con người dưới ngòi bút của Kim Dung, ai đọc cũng ghét cái tên Lâm Bình Chi. Cậu ta cứ theo đuổi mãi, không làm sao nguôi ngoai được cái dã tâm là học cho bằng được Tịch tà Kiếm Phổ bất chấp đến sự an vui riêng của mình, phải ép mình làm đệ tử của Nhạc Bất Quần, mặc dù biết chân tướng xấu xa của sư phụ, phải đổi giống, phải hy sinh vợ là Nhạc Linh San, phải bị mù lòa, và phải chịu giam cầm dưới đáy hồ, tượng trưng cho tâm thức mù mờ cả đời của LBC.

3. Hữu Chiêu: Nhậm Ngã Hành (Nhậm nghĩa là nhiệm vụ, cũng có nghĩa là tùy nhậm, Ngã Hành là hành động hay việc làm của bản ngã hay cái tôi). Con người của NNH tượng trưng cho cái tôi độc đoán độc tài vô cùng. Tính tự do quá độ, nghĩ sao làm vậy, coi mọi người là không, rất ngang tàng như một vị vua uy quyền, giết ai thì giết không cần luật lệ chi hết, nổi tiếng với môn Hấp Tinh Đại Pháp. Tuy nhiên gậy ông đập lưng ông, môn này đã làm cho ông xáo trộn kinh mạch mà chết. Trong khi đó LHX nhờ Dịch Cân Kinh mà khỏi và công lực gia tăng gấp bội.

Phân chia như vậy căn cứ trên cái nổi bật nhất của mỗi nhân vật, thực ra họ có cả ba: hữu tâm, hữu cầu và hữu chiêu. Chỉ qua tên của 4 nhân vật trên, ta thấy rõ ràng gút thắt của tâm thức vị ngã có những đặc tính như sau:

- Thái độ cho mình là nhất (Bất Bại), là đúng, không sai. Đây chính là dấu ấn của tâm thức vị ngã cực độ.

- Có khuynh hướng phủ nhận tha nhân, nhạt nhẽo với mọi người (Lãnh Thiền).

- Không nguôi ngoai với dã tâm (Bình Chi), cứ tìm cầu, đoạt điều ham muốn bằng mọi giá.

- Thủ đoạn ngang tàng “ta đây”, bất chấp luật lệ, muốn làm gì thì làm, chẳng sợ ai, coi mọi người không ra gì. (Nhậm Ngã Hành)

Những thái độ và hành động của NBQ và những người ở trên đã tạo ra những gút thắt vị ngã khiến cuộc đời của nhiều người đi vào sụp đổ.

Giải Gút Thắt Nghiệp Chướng:

Nhạc Bất Quần và một số nhân vật đã thắt nhiều gút nghiệp chướng trong câu chuyện TNGH. Vậy ai là người giải gút? Đó chính là Lệnh Hồ Xung (Lệnh là mệnh lệnh, Hồ là hồ nghi, mơ hồ, không rõ rệt, Xung là vọt ra, xung phá, có nghĩa bắt buộc phải làm để vượt ra khỏi nghi ngờ và mơ hồ). Anh chàng này bản tánh thì Vô Tâm, chí hướng thì Vô Cầu và khả năng thì Vô Chiêu. Có cả ba chữ Vô để đối đầu với ba chữ Hữu của Nhạc Bất Quần. Theo môn khoa học âm dương mà tác giả Kim Dung muốn dẫn chứng: âm sinh dương, trong âm có dương và ngược lại. Như trong đồ hình vẽ âm dương bằng hai giọt nước ôm sát nhau trong vòng cầu, nửa âm có chút xíu dương, nửa dương có một tí âm. Nhạc Bất Quần tuy không phải là cha đẻ, nhưng có công nuôi dậy uốn nắn LHX từ tấm bé, NBQ có ba có đã tạo ra LHX có ba không. NBQ thì vị ngã giả dối câu nệ khuôn khổ, còn LHX lại không vị ngã, nhưng chân thật, phóng khoáng không bị ràng buộc gì hết. Không vị ngã nên không bị tiền tài danh vọng thù oán đố kỵ làm cho mơ hồ lầm lẫn. Thắt gút là một nhân vật (NBQ) thì giải gút cũng phải là một nhân vật (LHX) là như vậy.

Vô Tâm, tức là bản tánh không có tâm cơ, mưu mô. Người thông thoáng, phóng khoáng, dễ chịu. Làm xong thì thôi, không để bụng, không tính toán, không thù hằn. LHX giao tiếp với hết mọi người không phân biệt chánh tà. Ai chàng cũng cởi mở, không có dã tâm, không mưu cầu lợi lộc, nên không thù hằn ai cả. Sở dĩ tác giả Kim Dung đặt ra hình ảnh LHX luôn say sưa rượu chè, khiến cho chúng ta hiểu lầm anh chàng này một chút. Thực ra “uống rượu” ở đây Kim Dung chỉ muốn nói lên cái bản chất phóng khoáng tự do không câu chấp vào lề thói luật lệ gò bó quá chặt chẽ khiến cho cá nhân không phát triển được. Thích đánh kiếm múa võ thì đánh, dù đánh với tên Điền Bá Quang đồi bại, đánh xong thoải mái mời nhau uống rượu, không có một chút so đo, không bị nền nếp ràng buộc, không có ác tâm, không coi ai là kẻ thù của mình.

Vô Cầu, tức là chí hướng của cả đời, thì chỉ cần làm sao sống cho thoải mái là được. LXH chẳng mong cầu gì cả, nhưng lại được tất cả. Không muốn học kiếm hay võ nhưng lại được truyền thụ Kiếm Pháp của Ngũ Nhạc Kiếm Phái, Độc Cô Cửu Kiếm, Hấp Tinh Đại Pháp và Dịch Cân Kinh. Không muốn làm chưởng môn, mà được làm chưởng môn phái Hằng Sơn. Không muốn vợ con mà lại được Doanh Doanh yêu thương và trở nên “phò mã”. Nhưng chàng bỏ hết: không làm chưởng môn nữa, không làm “phò mã phó giáo chủ”. Và sau khi đã thành minh chủ võ lâm, LHX cũng bỏ luôn để về vườn để cùng với Doanh Doanh tiếp tục dong chời và hòa tấu khúc tiếu ngạo giang hồ. Anh chàng không tham danh, tham quyền, tham lợi, sống rất xuề xòa, sống vô vi. Đó chính là chí hướng của LHX: hoàn toàn thoải mái, hoàn toàn thư giãn, không có động lực nào áp đặt lên LHX được hết. Nhậm Ngã Hành dùng đủ lời khuyên, dụ khị, áp lực muốn chàng làm phó giáo chủ, nhưng LHX một mực từ chối dù mất Doanh Doanh. Phương Chứng đại sư ép phải gia nhập Thiếu Lâm mới truyền Dịch Cân Kinh để chữa bệnh, anh chàng cũng chẳng màng sống chết, không chịu gia nhập. Tâm vô vi không phải là thụ động xấu, nhưng mang tính tích cực, vị tha và hướng thượng. LHX không bao giờ làm xấu hại người, nhưng luôn luôn quên mình giúp đời, luôn tạo ra sự hài hòa chung quanh chỗ mình sống. Chí hướng này trong đạo Phật gọi là “phát bồ đề tâm”.

Khi sống vô vi và phát bồ đề tâm, ta có thể tạo ra một từ trường thoải mái thuận lợi dễ chiêu cảm người chung quanh. Doanh Doanh là con của Nhậm Ngã Hành, sau đó được rèn luyện và sống trong uy quyền của Đông Phương Bất Bại. Theo âm dương học, âm sinh ra dương, bố độc ác ma quái lại sinh ra một cô con gái thông minh quang minh chính đại. Vị Thánh Cô này bản thân lúc đầu cũng rất ma quái và độc ác, chả thế mà trong chốn giang hồ, các tên ác tặc đề phải e dè và sợ sệt nàng. Nhưng từ khi được quen LHX, cô thấy cái cuộc sống nó có một khía cạnh khác, nó nhân bản, vui tươi, nhẹ nhàng, thương yêu, nên cô đã từ từ thay đổi: bớt trừng phạt người khác, bớt giết người, bớt hận thù đi. Cô trở nên một Doanh Doanh tràn đầy, dễ thương, thông minh, giỏi giang, nhẹ nhàng, bổ túc những thiếu xót khiếm khuyết của LHX, và họ trở nên một cặp tình nhân lý tưởng được người đời rất quí mến ưa chuộng.

Vô Chiêu, tức là khả năng, bản lãnh của LHX là môn võ công Độc Cô Cửu Kiếm, khi thi triển kiếm pháp hoàn toàn không có chiêu số. Môn võ công này dựa trên Kinh Dịch, quan sát kiếm pháp của địch thủ, thấy chỗ sơ hở rồi dùng tâm ý đưa kiếm vào ngay chỗ sơ hở đó để hạ đối phương. Muốn như vậy phải am tường “Dịch” hay sự vận chuyển của vũ trụ. Đó là một khả năng tối thượng trong võ thuật. Tổ sư sáng lập là Độc Cô Cầu Bại, tuyệt cao về võ học, nhưng không kiêu căng, ngược lại rất là khiêm nhường chỉ muốn cầu bại, xin được thua một lần. LHX tình cờ được truyền thụ cho môn võ học này từ thái sư thúc Phong Thanh Dương, cái tên thật hay. Phong là gió, Thanh là thanh tịnh nhẹ nhàng, Dương là nổi lên, nghĩa là nổi lên một ngọn gió thanh tịnh nhẹ nhàng. Gió vô hình vô tướng, đến đi bất chợt, không ai cản được, nhẹ khinh thoáng hiện chợt biến vô cùng khôn lường. Ý nghĩa của cái tên Phong Thanh Dương nói lên đặc tính của khả năng “vô chiêu”. Người “vô chiêu” không ỷ vào khả năng, nghề nghiệp hay quyền lực của mình để chèn ép người khác, dùng khả năng như một phương tiện thiện xảo để giải quyết vấn đề, xong rồi cất kiếm ra đi. Trong cuộc sống hằng ngày, người vô chiêu coi mọi người bình đẳng, tâm lượng rộng mở, thường hay giúp người, giúp xong rút lui, không kể ơn hay đòi hồi báo. Mình không ỷ tài hay uy quyền, nên mọi người chung quanh ai cũng thấy thoái mái không ngại ngùng đến gần để bầu bạn với ta.

Những nhân vật giải gút khác:

1. Vô tâm: Phương Chứng Đại Sư (Thiếu Lâm), Xung Hư Đạo Trưởng (Võ Đang) và Mạc Đại Nhất (Hoành Sơn)

2. Vô Cầu: Ninh Trung Tắc ( vợ của Nhạc Bất Quần phái Hoa Sơn), Định Tĩnh, Định Nhàn, Định Dật (Hằng Sơn tam tiên), Doanh Doanh.

3. Vô Chiêu: Phong Thanh Dương (Thái Sư Thúc phái Hoa Sơn)

Qua những nhân vật giải gút trên, Kim Dung muốn đưa ra một số những thái độ, triết lý và hành động của ba vô (vô tâm, vô cầu và vô chiêu) như sau để giải tỏa hay giải nghiệp những chướng ngại do Nhạc Bất Quần và những nhân vật thắt gút với ba hữu (hữu tâm, hữu cầu và hữu chiêu) gây ra:

- Phương Chứng: Chứng tức là đạt tới, Phương là chỗ tâm lượng rộng rãi không bờ bến, vô lượng vô biên, nhà Phật gọi là bất nhị.

- Xung Hư: nghĩa là muốn tâm vượt thoát (xung) ra ngoài thái hư, vượt lên trên tất thảy mọi tình cảm và suy tư, nhà Phật gọi là vô ngã.

- Mạc Đại Nhất: mạc nghĩa là đừng, đại nhất là lớn số một hay lớn nhất, cho nên cả tên có nghĩa “đừng là số một”, đừng làm lớn, trở nên không là ai cả, để cái bản ngã hay cái tôi nhỏ thôi, tức là chỉ nghĩ đến người, nhà Phật gọi là vị tha.

- Ninh Trung Tắc: Ninh là an ninh yên ổn, Trung là ở giữa, trung đạo, và Tắc là tức thời, cả tên Ninh Trung Tắc có nghĩa là tức thời ngay bây giờ ta ở trong trung đạo một cách an ổn tĩnh lặng.

- Định Tĩnh: nghĩa là lắng tâm cho tĩnh lặng, không cho bất cứ cái gì sôi nổi lên trong cuộc sống hằng ngày.

- Định Nhàn: là lắng tâm tới chỗ hoàn toàn thư giãn, vô vi, không làm hay can thiệp chuyện thiên hạ

- Định Dật: là lắng bặt mọi sự náo động lăng xăng

- Doanh Doanh: nghĩa là tràn đầy, dư thừa, còn có ý diễn tả dáng vẻ yêu kiều, dễ thương của phụ nữ. Do đó học để trở thành ‘doanh doanh’ là học sao cho dễ thương, tràn đầy tình thương, chớ không thiếu thốn tình cảm.

- Phong Thanh Dương: Phong nghĩa là gió, Thanh là mát và thanh tịnh, Dương là khởi dậy. Do đó tên này gợi lên sự vô hình vô tướng, không chấp trước, như làn gió thoảng, mát mẻ, thoáng, không hề vị kẹt, bị ngăn trở, hoàn toàn vô ngại. Đó cũng là cảnh giới của tâm thức Vô Ngã. Do vậy Phong Thanh Dương là nhân vật tối cao và tối huyền bí trong truyện TNGH.

Sự tác hợp của Lệnh Hồ Xung và Doanh Doanh

Tại sao Kim Dung lại giải gút thắt của TNGH bằng sự tác hợp của LHX với Doanh Doanh, mà không với Nghi Lâm?

Như ta đã biết, Hồ Xung nghĩa là vượt thoát mọi nghi ngờ trở nên rõ ràng. Cũng ví như vượt thoát lòng vị ngã, thoát sự mê muội của lòng ích kỷ. Trong khi Doanh Doanh nghĩa là tràn đầy, dễ thương. Cũng ví như thành tựu tình thương, tràn đầy tình thương, một thứ tình mà bất chấp danh vọng, địa vị, quyền lợi. Trong truyện, trước khi Doanh Doanh gặp Hồ Xung thì cô ta ác đức cực kỳ, giết người không chớp mắt. Thế rồi chỉ sau khi sống với Hồ Xung thì cô mới bắt đầu đổi tính trở thành nhu thuận, khôn ngoan và dễ thương. Do vậy, Hồ Xung cần Doanh Doanh, là một bước tiến hóa tất yếu. Luận cá tánh thì Doanh Doanh là người rất rộng rãi, dám nói dám làm, chẳng sợ gì cả. Cô ta lúc đầu sợ người ta cười là mình yêu Lệnh Hồ Xung, nhưng sau thì công khai dong ruỗi giang hồ với Hồ Xung. Luận về khả năng thì Doanh Doanh suy nghĩ tinh tế, có óc chỉ huy và tổ chức, có thể làm lãnh đạo. Luận về văn hóa, thì cô ta đờn hay, múa giỏi, võ công cao cường, rành về mọi việc mà một nữ nhi thời đó không sao làm được. Cho nên LHX và DD phải trở nên một cặp lý tưởng để giải hết các gút thắt éo le tàn bạo của câu chuyện TNGH.

Vì sao Lệnh Hồ Xung không thể tác hợp với Nghi Lâm ?

Đặt câu hỏi thì ta cũng hiểu một phần là không nên có sự tác hợp giữa LHX và Nghi Lâm. Một lần nữa, Lệnh Hồ Xung nghĩa là vượt thoát mọi nghi ngờ trở nên rõ ràng. Cũng có nghĩa là vượt ra, vượt lên, không bị buộc ràng, để đạt tới tự tại, ra khỏi vòng vị ngã. Trong khi Nghi Lâm: Nghi nghĩa là nghi thức lề lối, luật nghi, Lâm nghĩa là ngọc. Do đó Nghi Lâm là ý nói luật lệ, nghi thức đã giữ tới chỗ thuần khiết, không còn nhiễm ô, nhưng cũng cứng cỏi như ngọc vậy. Đây tức là nói tới giới luật kỷ cương, một phương thức để kiểm soát, khống chế sự cuồng loạn của bản ngã.

Nếu Hồ Xung muốn vượt thoát sống thoải mái mà lại kẹt vào trong sự cứng cỏi của nề nếp kỷ cương thì sao gọi là vượt thoát. Kỷ cương hay giới luật chỉ là công cụ để giúp ta vượt thoát, nhưng bản thân nó không phải là sự vượt thoát ra khỏi tâm thức vị ngã. Do đó giải pháp tác hợp giữa LHX và NL sẽ bị bế tắc không dùng được để giải gút thắt nghiệp chướng trong câu chuyện TNGH.

Một vài bài học nhỏ khác từ nhân vật Lệnh Hồ Xung:

Trong cuộc đời ai cũng bị ảnh hưởng từ những người hay hoàn cảnh chung quanh. Trong TNGH, ta thấy Lệnh Hồ Xung chịu ảnh hưởng rõ rệt qua ba nguồn chính:

1. Ảnh hưởng dưỡng dục về đạo đức, nhân sinh quan, vũ trụ quan… từ Nhạc Bất Quần và Ninh Trung Tắc của phái Hoa Sơn. Đây là nền tảng lúc đầu, nhưng sau đó nhờ tình tình phóng khoáng, LHX đã vượt thoát khỏi sự cứng cỏi ngộp thở của nếp xưa thói cũ. Trong khi đó các sư huynh đệ muội khác của chàng thì không tiến bộ gì mà còn lu mờ biến mất.

2. Ảnh hưởng giáo dục võ thuật qua Phong Thanh Dương và Phương Chứng. Mới đầu là đại đệ tử phái Hoa Sơn, võ nghệ của LHX cũng xoàng xĩnh. Nhưng sau đó được học hỏi thay đổi sang “vô chiêu” (Độc Cô Cửu Kiếm), trở nên hướng thượng (Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm) và thay đổi vũ trụ quan, LHX trở nên thông triệt lẽ biến dịch của trời đất vũ trụ, quan sát đường kiếm, nhìn ngay ra sự khiếm khuyết dù nhỏ, để chọc thủng phá tan đường kiếm của địch thủ. Giáo dục con người cũng vậy, phải vô chiêu, đi vào con đường vị tha, vô ngã khiến tâm thức luôn tiến hóa hướng thượng thì hơn.

3. Ảnh hưởng khí lực: LHX bị xáo trộn nội lực qua việc truyền nội lực của Điền Bá Quang, Bất Giới Hòa Thượng, Đào Cốc Lục Tiên và các tay ma giáo giang hồ, do đó phải điều trị mãi về sau học được Dich Cân Kinh mới khỏi. Mấy nhân vật nầy tượng trưng cho những bạn bè lăng nhăng trong cuộc đời, thích ăn càn nói bậy, nhậu nhẹt say sưa, tham dâm, hướng ngoại, bất kể thuần phong mỹ tục, sống bừa bãi khiến sức khỏe suy mòn, không hội tụ được. Khi ta “gần mực thì đen” như vậy, bản thân ta phải quyết tâm từ từ dứt bỏ, đồng thời hãy giúp những bạn bè lôi thôi đó biết cải tà qui chánh. Có như vậy, sức lực của ta mới phục hồi khỏe mạnh, tâm lý và tâm linh mới ngay thẳng vươn cao.

Đến đây bài viết dựa theo những bài thuyết giảng trình bày của Thầy Hằng Trường đã dài. Tuy còn rất nhiều nét tinh túy trong câu chuyện Tiếu Ngạo Giang Hồ. Thầy HT xin hẹn có thể có những dịp khác vào lần sau để nghiên cứu và suy gẫm thêm về những tiểu thuyết nổi tiếng khác như Thiên Long Bát Bộ, Anh Hùng Xạ Điêu, Tây Du Ký v.v.

Thầy Hằng Trường thuyết giảng

Trường Anh ghi lại
http://vietwellness.net/

->Đọc thêm...

0 komentarze: